Luật phá sản nhiều bất cập

Luật Phá sản được Quốc hội thông qua ngày 15.6.2004, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15.10.2004 và thay thế Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993. Đây là cơ sở pháp lý để giải quyết hậu quả khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tiễn, Luật Phá sản đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập, làm cho việc giải quyết phá sản gặp nhiều khó khăn, gây thiệt hại tài sản của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp bị can thiệp quá sâu

Công ty Vật tư nông nghiệp (Cty VTNN) Quảng Nam là doanh nghiệp nhà nước, kinh doanh phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ các địa phương trong tỉnh. Đến năm 2005, việc kinh doanh của doanh nghiệp bị thua lỗ, mất khả năng thanh toán nợ đến hạn trên 25 tỷ đồng và 258.000 USD. Do đó, TAND tỉnh Quảng Nam mở thủ tục phá sản và kiểm kê, định giá tài sản chỉ còn trên 2,8 tỷ đồng. Vụ việc đang tiến hành giải quyết thì UBND tỉnh Quảng Nam thu hồi 648m2 đất cho Cty VTNN thuê xây dựng trụ sở làm việc, đồng thời ấn định giá khởi điểm nhà làm việc, vật kiến trúc trên đất là 875 triệu đồng và quy định tổ chức, cá nhân trúng đấu giá tài sản hình thành trên đất được mua hoặc thuê đất hàng năm theo quy định của pháp luật.

Trên văn bản là vậy, nhưng thực tế UBND tỉnh Quảng Nam thu hồi đất của Cty VTNN để giao cho Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường thuộc Sở TNMT sử dụng làm trụ sở làm việc. Do đó, giá khởi điểm tài sản của Công ty VTNN cũng là giá mua của Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường từ nguồn ngân sách địa phương. Trong khi đó, Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Quảng Ngãi là chủ nợ chính đã nhiều lần xin mua tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất của Công ty VTNN để trừ nợ vay 1.138.931.374 đồng và trên 258.000 USD (tương đương 5,272 tỷ đồng tại thời điểm 2008), nhưng vẫn không được UBND tỉnh Quảng Nam chấp nhận. Hoặc, Cty VTNN Quảng Nam thuê của UBND thành phố Đà Nẵng đất xây dựng nhà kho; Văn phòng đại diện. Năm 2007 UBND thành phố Đà Nẵng thu hồi 13.294m2 đất cho thuê để khai thác quỹ đất và phê duyệt giá đền bù, hỗ trợ thiệt hại cho Cty VTNN Quảng Nam gần 1,5 tỷ đồng và giao cho Công ty Cổ phần Trường Xuân và Công ty Quản lý – Khai thác đất Đà Nẵng có nhiệm vụ thanh toán khoản tiền trên cho Cty VTNN Quảng Nam, nhưng đến nay 2 Công ty này vẫn im hơi lặng tiếng.

Trường hợp khác, Công ty Mía đường Quảng Nam được Bộ NN và PTNT cho thành lập năm 2000 và được Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Nam ký hợp đồng cho thuê 65.180m2 đất với giá 1.087,5 đồng/m2/năm, thời hạn sử dụng 50 năm. Hợp đồng còn ghi nhận “Trường hợp bên thuê đất bị chia tách, sáp nhập, chuyển đổi doanh nghiệp hoặc chuyển nhượng tài sản cho các tổ chức cá nhân khác mà tạo nên pháp nhân mới thì phải lập thủ tục thuê đất trong thời gian còn lại”. Qua 6 năm sản xuất kinh doanh, Cty Mía đường Quảng Nam luôn bị thua lỗ kéo dài và mất khả năng thanh toán nợ vay đến hạn 295 tỷ đồng và 3 triệu USD. Tòa án tỉnh Quảng Nam mở thủ tục phá sản và kiểm kê, bán đấu giá tài sản là trụ sở làm việc, nhà xưởng, máy móc thiết bị… hình thành trên đất thuê được 47,680 tỷ đồng. Nhưng trước đó, UBND tỉnh Quảng Nam đã thu hồi toàn bộ diện tích đất cho Công ty Mía đường Quảng Nam thuê để đầu tư vào dự án khác, buộc đơn vị trúng đấu giá tài sản phải tháo dỡ toàn bộ trụ sở làm việc, nhà xưởng, máy móc, thiết bị để giao lại đất cho Nhà nước.

Thực tế, công tác thu hồi nợ đối với 2 doanh nghiệp bị phá sản rất khó khăn. Các con nợ của doanh nghiệp bị phá sản lên đến vài trăm đơn vị, cá nhân và nằm rải rác trong, ngoài tỉnh. Đặc biệt hơn, doanh nghiệp tìm mọi cách né tránh nghĩa vụ của mình, còn các đại lý và cá nhân thì không có địa chỉ rõ ràng… việc thu hồi nợ không khác gì mò kim đáy biển. Chính vì thế, việc giải quyết việc phá sản của 2 công ty này từ năm 2005 đến nay vẫn treo lơ lửng, chưa đủ điều kiện để tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản. Điều quan trọng hơn, UBND tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng đã can thiệp vào quyền định đoạt về tài sản của doanh nghiệp. Điều này khiến Công ty Mía đường, Công ty VTNN Quảng Nam và Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần nông nghiệp Quảng Ngãi càng khó khăn hơn.

Và sự chồng chéo giữa các luật

Luật Phá sản quy định Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn giám sát, tiến hành thủ tục phá sản. Nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cung cấp tài liệu cho Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét việc khởi tố về hình sự và vẫn tiến hành thủ tục phá sản. Đối với Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản thì có nhiệm vụ tổ chức thi hành quyết định của Thẩm phán theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự quy định Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra các quyết định thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, không cho phép ban hành các quyết định thi hành án đối với các quyết định của Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản, kể cả quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Như vậy, Chấp hành viên làm Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản không có quyền ra các quyết định thi hành án đối với quyết định của Thẩm phán về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Ngoài ra, luật cũng quy định Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản theo quy định của Luật này và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Theo đó, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị đối với quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản và quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản. Nhưng Luật không quy định Tổ thẩm phán hoặc Tổ quản lý, thanh lý tài sản chuyển hồ sơ việc phá sản cho viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, xác định tính hợp pháp về các quyết định của Tổ Thẩm phán, để bảo đảm cho việc kháng nghị của Viện kiểm sát đúng pháp luật. Vậy, việc xác định công nợ, miễn, giảm để xóa nợ; kiểm kê, định giá, bán đấu giá tài sản; lập phương án phân chia tài sản có vô tư khách quan để kháng nghị hoặc kiến nghị khắc phục, sửa chữa những tồn tại trong việc giải quyết phá sản?

Còn một thực tế khác là, Thẩm phán và Chấp hành viên được phân công giải quyết việc phá sản, kinh nghiệm nghề nghiệp chưa cao, luôn bị động, lúng túng nên đã dẫn đến những sai sót khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn. Mặt khác, Thẩm phán và Chấp hành viên ngại vướng trách nhiệm cá nhân, phải bồi thường thiệt hại khi thực hiện các biện pháp giải quyết việc phá sản. Các thành viên trong Tổ quản lý, thanh lý tài sản là những người đại diện cho chủ nợ, đại diện cho doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm theo sự phân công của người quản lý trực tiếp. Vì không phải là nhiệm vụ chuyên môn, nên sự tham gia phối hợp của những thành viên thiếu nhiệt tình. Ngoài ra, kinh phí hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản chủ yếu sử dụng từ nguồn kinh phí của Cơ quan thi hành án dân sự, nhưng con nợ quá nhiều, chẳng hạn Công ty Mía đường Quảng Nam gần 500 con nợ và nằm rải rác ở nhiều tỉnh, thành khác nhau. Nguồn kinh phí của cơ quan thi hành án dân sự có hạn và chủ yếu phục vụ công tác thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, không thể đáp ứng yêu cầu phục vụ cho việc thu hồi nợ trong việc phá sản. Đồng thời, chế độ thù lao cho những người làm công tác giải quyết việc phá sản còn quá khiêm tốn, cho nên công tác đi lại thu hồi nợ bị hạn chế nhất định, mà không thu hồi được nợ thì không thể tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản.

Từ thực tế này, thiết nghĩ cần quan tâm sửa đổi, bổ sung Luật Phá sản năm 2004, nhằm khắc phục sự chồng chéo, bất cập, đặc biệt hạn chế sự can thiệp của các chính quyền địa phương quá trình giải quyết việc phá sản; đồng thời tạo sự đồng bộ giữa các quy định của Luật Phá sản, Luật Thi hành án dân sự và những văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật liên quan đến lĩnh vực phá sản. Bên cạnh đó, cần xem xét lại chế độ thù lao cho những người làm công tác giải quyết việc phá sản.

Viết một bình luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai.